Yếu tố quyết định trong kiểm soát môi trường phòng thử nghiệm

Yếu tố quyết định trong kiểm soát môi trường phòng thử nghiệm

Cùng với sự phát triển của kinh tế đất nước, các Phòng thử nghiệm (PTN) phục vụ cho phân tích, nghiên cứu được thành lập mới ngày càng gia tăng cả về số lượng, quy mô và lĩnh vực thực hiện nhằm tạo ra các công trình nghiên cứu mới, các sản phẩm khoa học công nghệ phục vụ xã hội, tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế của cả nước. Bên cạnh các thành tựu khoa học, công nghệ đạt được do các PTN mang lại, vấn đề an toàn hóa chất, an toàn lao động, an toàn môi trường của PTN lại ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát.

Sự cần thiết của việc quản lý môi trường PTN

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự đòi hỏi của cuộc sống, các PTN ngày càng gia tăng cả về số lượng và quy mô. Bên cạnh các thành tựu khoa học, công nghệ do các PTN mang lại thì vấn đề quản lý chất thải và an toàn môi trường trong các PTN ngày càng trở nên phức tạp.

PTN là nơi làm việc có tính đặc thù cao vì trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, thử nghiệm người ta phải thường xuyên phải tiếp xúc với các hóa chất độc hại. PTN cũng là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy, nổ, tràn hóa chất.

Quản lý chất thải và theo dõi diễn biến của môi trường trong các PTN nhằm đánh giá được mức độ tác động của các nguồn ô nhiễm đối với môi trường làm việc, giúp ngăn chặn được những vấn đề ô nhiễm từ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm của PTN. Từ đó có thể đề ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và các biện pháp xử lý môi trường thích hợp nhằm tạo ra môi trường làm việc an toàn trong các PTN.

Kiểm soát chất thải và quản lý môi trường các PTN không chỉ để bảo vệ tốt sức khỏe cho những người làm việc trong đó, mà còn có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng cũng như môi trường sinh thái.

Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường trong các PTN

Hoạt động chuyên môn của các PTN cũng chính là nguyên nhân gây ô nhiễm trong PTN. Có thể kể ra các nguồn gây ô nhiễm sau:

– Lưu trữ các hóa chất thí nghiệm.

– Thải bỏ các mẫu kiểm nghiệm, hóa chất, thuốc thử, dung môi hết hạn sử dụng.

– Hoạt động pha chế thuốc thử.

– Các sản phẩm phát sinh trong lúc làm các thí nghiệm, các chất thải khí và nước sản sinh trong thí nghiệm.

– Các sự cố bất cẩn trong quá trình thao tác trong nghiên cứu, thử nghiệm.

– Sự phát tán của các vi sinh vật gây bệnh, vv…

Sự ô nhiễm môi trường trong các PTN không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn có tác động ăn mòn thiết bị. Có thể kể ra các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường trong các PTN như sau:

Nhiệt độ và độ ẩm:

  • Nhiệt độ tiêu chuẩn trong phòng ổn định nhiệt ẩm là 20oC;
  • Nhiệt độ tương ứng trong phòng thí nghiệm và phòng kiểm tra là 20±5oC;
  • Phòng cân đối nhiệt độ là 20±3oC,
  • Nhiệt độ phòng mẫu là ≤32oC.

Nếu nhiệt độ cao sẽ làm tăng khả năng bay hơi của các hóa chất độc hại.

Khi nhiệt độ trong PTN tăng do phản ứng tự nhiên của cơ thể hoạt động tuần hoàn, hô hấp của cơ thể cũng được tăng cường làm tăng khả năng hấp thụ chất độc vào cơ thể. Nhiệt độ cao dẫn đến mất hơi nước gây ra tình trạng mỏi mệt, giảm khả năng tập trung vào công việc.

Độ ẩm tương đối trong PTN bình thường duy trì ở mức 40-70%. Khi độ ẩm không khí tăng làm tăng sự phân giải của một số hóa chất với nước, tăng khả năng tích tụ khí ở niêm mạc, làm giảm khả năng thải độc bằng bài tiết qua đường mồ hôi và làm tăng nguy cơ nhiễm độc cho những người làm việc trong PTN.

Khi điều kiện môi trường trong PTN có sự bất thường như nhiệt độ và độ ẩm vượt quá phạm vi quy định sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra hoặc thẩm định, nên kịp thời báo cáo lên b an lãnh đạo có liên quan của PTN để tiến hành khắc phục.

Sự lưu thông không khí:

Tốc độ lưu thông không khí phù hợp trong PTN làm giảm nhiệt độ trong phòng, không khí bị ô nhiễm sinh ra do các phản ứng khi làm thí nghiệm sẽ được thay thế bằng không khí trong lành hơn, nồng độ hơi độc sẽ được giảm do bị pha loãng, làm giảm nguy cơ nhiễm độc.

Thu gom và xử lý chất thải:

Chất thải trong PTN  là các loại chất thải nguy hại bao gồm chất thải khí, chất thải rắn, chất thải nước có thành phần đa dạng và rất phức tạp. Việc phân loại và quản lý chất thải ngay trong PTN và xử lý đúng cách các loại chất thải này có ý nghĩa vô cùng quan trọng không những trong phạm vi PTN mà còn làm giảm tác hại của nó đối với môi trường sinh thái.

Nguồn phát thải của chất thải khí phát sinh từ các phản ứng hóa học sinh khí, các khí sinh ra từ các thiết bị phân tích trong quá trình vận hành, các dung môi có nhiệt độ bay hơi thấp. Các hơi độc sinh ra từ các kho, tủ lưu trữ, bảo quản hóa chất của PTN.

Chất thải lỏng là loại chất thải chiếm tỷ lệ cao trong các PTN. Đó không chỉ là các sản phẩm sinh ra từ các phản ứng hóa học, các hóa chất thải loại, mà còn là nước rửa dụng cụ thí nghiệm.

Chất thải rắn trong PTN phát sinh từ các bao bì đựng hóa chất và các dụng cụ, nguyên phụ liệu thí nghiệm đã qua sử dụng hoặc bị hỏng vỡ.

Có nhiều phương thức tác động của sự ô nhiễm môi trường trong PTN đến môi trường sinh thái đó là:

– Phát tán các chất độc hại ra không khí.

– Lan truyền các chất độc hại trong môi trường nước.

– Thẩm thấu và lan truyền trong đất.

Nói về tiêu chuẩn lọc khí, túi lọc khí được lọc là một thiết bị lọc khí sách ở tiêu chuẩn cao. Túi lọc khí có nhiều kiểu loại và cấp độ lọc khác nhau phù hợp với hệ thống của PTN. Túi lọc khí thường được dùng trong máy AHU, trong bệnh viện, trong lọc thứ cấp của phòng sạch…

Lọc khí được chia làm ba cấp độ lọc cơ bản theo tiêu chuẩn EN779 và tiêu chuẩn EN1822. Trên thực tế, ba cấp độ lọc đó là lọc thô, lọc tinh rồi tới lọc HEPA. Mỗi cấp độ lọc đều có kích thước, cấp độ lọc và hiệu suất khác nhau.

Để đánh giá chất lượng và phân loại các loại lọc khí, các chuyên gia đã đưa ra các tiêu chuẩn để dựa vào đó áp dụng cho từng mục đích sử dụng. Các tiêu chuẩn phổ biến của lọc khí ở Việt Nam là EN779 và EN1822.

Lọc thô

– Theo tiêu chuẩn châu Âu EN 779; G1 – G4

– Theo tiêu chuẩn Mỹ: ASHREA 52.1 MERV 1 – MERV 6

Lọc tinh

– Theo tiêu chuẩn châu Âu EN 779; F5 – F9

– Theo tiêu chuẩn Mỹ: ASHREA 52.1 MERV 9 – MERV 14

Lọc HEPA & ULPA

– Theo tiêu chuẩn châu Âu EN 1822; H10 – H14; U15 – U17

– Theo tiêu chuẩn Mỹ: ASHREA 52.2 MERV 17 – MERV 20.

Thiết kế phòng thí nghiệm – yếu tố ảnh hưởng đến môi trường PTN

Thiết kế phòng thí nghiệm có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến môi trường PTN. Không xây dựng PTN quá gần đường giao thông, gần các ống khói và những nơi có khả năng gây ô nhiễm do khí bụi.

PTN phải được thiết kế rộng rãi, sáng sủa, thông thoáng phù hợp với công năng sử dụng và phải có hành lang thoát hiểm. Ngoài điều hòa không khí, hệ thống thông gió ít nhất phải được lắp đặt ở các nơi phát thải ra khí độc. Các PTN vi sinh phải có các quy định rất nghiêm ngặt về tiêu chuẩn khí sạch tùy theo cấp độ. Cần chú ý bảo quản các chủng vi sinh vật gây bệnh nghiêm ngặt để phòng ngừa sự phát tán của chúng ra môi trường.

Hệ thống thoát nước phải được thiết kế phù hợp với công năng của từng PTN. Chú ý lắp đặt các họng cống thoát nước sàn ở những vị trí thích hợp để ứng phó với sự cố tràn hóa chất. Cần lắp đặt các vòi hoa sen tự động để xử lý những tình huống hóa chất rơi, bắn vào người.

Trong PTN phải có các tủ hotte có lắp đặt các thiết bị lọc và hấp phụ khí độc để làm thí nghiệm với các chất độc hại hoặc các phản ứng sinh khí có mùi khó chịu. Công suất hút và tốc độ hút của tủ hotte phải phù hợp với công năng của từng PTN.

Việc lưu giữ hóa chất trong các kho hóa chất, tủ hóa chất đúng cách cũng góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong PTN. Các tủ lưu giữu hóa chất cũng cần được lắp đặt các quạt hút hơi độc sinh ra trong quá trình bảo quản.

Con người – yếu tố quyết định trong kiểm soát môi trường PTN

Môi trường trong PTN không chỉ phụ thuộc vào thiết kế PTN, các trang thiết bị bảo hiểm mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức của những người làm việc trong đó.

Con người có vai trò quyết định trong việc kiểm soát môi trường PTN. Những người làm việc trong PTN cần có các hiểu biết cơ bản về các hóa chất, chất độc và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc an toàn trong PTN. Ngoài ra, còn phải có các kỹ năng về sơ cứu, cấp cứu, các kỹ năng xử lý các sự cố bất thường xảy ra như cháy, nổ, tràn hóa chất.

Những người làm việc trong các PTN phải nhận thức được rằng công việc nghiên cứu, thử nghiệm của họ chỉ hoàn thành khi thực hiện tốt việc thu gom, xử lý chất thải phát sinh trong công việc.

Tuy nhiên, không phải PTN nào cũng đủ điều kiện và trang thiết bị để xử lý chất thải phát sinh trong qúa trình hoạt động. Có chăng chỉ là xử lý sơ bộ. Vì vậy, nhiều PTN đã ký các hợp đồng xử lý chất thải rắn, chất thải lỏng với các cơ quan xử lý môi trường chuyên ngành. Công việc còn lại của nhân viên PTN chỉ là việc thu gom triệt để và đúng cách các loại chất thải này.

Bùi Hữu Điển

0934 517 576