Xử lý sự cố tràn thủy ngân trong phòng thí nghiệm

Xử lý sự cố tràn thủy ngân trong phòng thí nghiệm

Do các vấn đề độc hại và vấn đề môi trường, nên người ta có xu hướng tránh xa thủy ngân để hướng tới các chất thay thế thân thiện hơn. Nếu bạn trải qua nhiều thời gian trong phòng thử nghiệm, bạn rất có thể nhận thấy nhiệt kế rượu và những thay đổi khác như vậy. Tuy nhiên, các mối nguy không chỉ đến từ thủy ngân nguyên tố.

Thủy ngân, hay còn gọi là cát lún, với ký hiệu hóa học Hg và trọng lượng nguyên tử là 200 và là nguyên tố thứ 80 của bảng tuần hoàn. Nó có ba dạng khác nhau – nguyên tố, hợp chất hữu cơ và hợp chất vô cơ.

Các dạng thủy ngân

Dạng phổ biến nhất trong phòng thử nghiệm là thủy ngân nguyên tố, thường thấy trong nhiệt kế, khí áp kế, áp kế và huyết áp kế, với tên một số dụng cụ thường thấy trong phòng thử nghiệm. Nhưng bạn có thể ít nhận thấy các dụng cụ này gần đây, do những nguy cơ tiềm ẩn đã dẫn đến việc loại bỏ dần thủy ngân, đặc biệt trong các cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe, về các lựa chọn thay thế ít độc hại hơn như nhiệt kế chứa cồn và dụng cụ điện tử hồng ngoại hoặc trạng thái rắn. (Bạn có thể chuyển bài viết này cho những người quản lý cơ sở, nhân viên nhà máy vật lý và nhân viên bảo trì, vì thủy ngân cũng được thấy có trong pin, van phao, công tắc thủy ngân, rơ le và đèn huỳnh quang, trong một số hạng mục xây dựng khác).

Các dạng thủy ngân
Các dạng thủy ngân phổ biến nhất trong phòng thí nghiệm

Các hợp chất thủy ngân vô cơ được hình thành khi thủy ngân kết hợp với các nguyên tố như clo, lưu huỳnh và oxy. Trước đây, tìm thấy các hợp chất này trong thuốc nhuận tràng và sơn latex. Tuy nhiên, EPA đã hủy bỏ đăng ký thủy ngân trong sơn nội thất vào năm 1990 và việc sử dụng hợp chất này bị dừng vào năm 1991. Ngoài ra, hầu hết các mục đích cho sử dụng trong nông nghiệp và dược phẩm cũng bị dừng tại Mỹ. Một trường hợp ngoại lệ là vẫn sử dụng clorua thủy ngân, trong chất khử trùng và một số loại thuốc trừ sâu.

Các hợp chất thủy ngân hữu cơ có ít giá trị công ng-hiệp và ít sử dụng nhưng lại là chất độc nhất. Thường phân loại chúng theo thuật ngữ chung là metyl thủy ngân. Chúng hình thành chủ yếu trong tự nhiên thông qua một quá trình trao đổi chất được gọi là methyl hóa sinh học. Các hợp chất thủy ngân này thường gặp như ô nhiễm môi trường từ cá bị ô nhiễm hoặc vùng nước ô nhiễm nhưng cũng có thể được sử dụng trong các phòng thử nghiệm hóa học và nghiên cứu.

Các triệu chứng và hậu quả phơi nhiễm

Thủy ngân nguyên tố, thủy ngân kim loại (biệt danh là rất nhanh), là dạng phổ biến nhất được thấy trong phòng thử nghiệm và môi trường làm việc thông thường. Nó là một chất lỏng bạc, không mùi ở nhiệt độ bình thường và là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp chính, chủ yếu do hít phải hơi sau khi bị tràn hoặc không được dọn dẹp sạch sẽ. Phơi nhiễm cấp tính (ngắn hạn) ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương (CNS) tạo ra các cơn run, thay đổi tâm trạng và giảm các chức năng thần kinh nhận thức, cảm giác và vận động. Liều quá cao có thể ảnh hưởng đến thận, gây suy thận. Phơi nhiễm mãn tính (lâu dài) ở mức độ thấp có thể tác động tương tự đến thần kinh trung ương, gây tăng tính cáu kỉnh, mất ngủ, mất trí nhớ, đau đầu và phát triển đạm niệu.

Tiếp xúc với các hợp chất thủy ngân vô cơ thường qua đường ăn uống, có khả năng hấp thụ qua da. Phơi nhiễm cấp tính gây ra vị kim loại trong miệng và dẫn đến buồn nôn, nôn và đau bụng dữ dội. Chỉ cần một đến bốn gam là có thể gây tử vong đối với một người có trọng lượng trung bình 70 kg. Phơi nhiễm lâu dài với các hợp chất thủy ngân vô cơ gây ra tổn thương thận tương tự như tổn thương do hơi thủy ngân kim loại gây ra.

Các hợp chất thủy ngân hữu cơ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Phơi nhiễm chủ yếu xảy ra khi hít vào và nuốt phải, nhưng sự hấp thụ qua da cũng đáng kể. Phơi nhiễm cấp tính qua đường hô hấp rất hiếm, nhưng dẫn đến các ảnh hưởng lớn đến thần kinh trung ương như mù lòa, điếc và suy giảm ý thức. Uống qua đường miệng gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển và sinh sản như chậm phát triển trí tuệ, mất điều hòa, mù lòa và bại não. Hít phải hoặc nuốt phải gây mãn tính làm tổn thương hệ thần kinh trung ương với các triệu chứng sớm nhất biểu hiện như mờ mắt, khó chịu và khó nói. Phơi nhiễm ngoài da rất nguy hiểm vì dễ nhận liều độc. Liều lượng thấp gây ra tất cả các triệu chứng ở trên, nhưng liều lượng cao (ít nhất là 200 mg) có thể dẫn đến tử vong. (nhà nghiên cứu Dartmouth, người bị tử vong một cách thê thảm vì một liều thuốc dù không đúng loại qua găng tay bảo hộ).

Xử lý an toàn và làm sạch đúng cách

Mặc dù OSHA không có một tiêu chuẩn cụ thể về việc sử dụng thủy ngân tại nơi làm việc, nhưng đã thiết lập các giới hạn phơi nhiễm cho phép đối với các hợp chất thủy ngân. Các chất này có trong bảng chất gây ô nhiễm không khí (29CFR1910.1000, Bảng Z-2). Nếu sử dụng bất kỳ hợp chất thủy ngân nào tại nơi làm việc của bạn, cần phải có đánh giá phơi nhiễm và đánh giá nguy cơ đối với các nhân viên xử lý vật liệu đó.

Giới hạn phơi nhiễm cho phép OSHA (PEL) là 0,01 mg / M3 là có trọng số thời gian trung bình trong tám giờ (TWA) đối với các hợp chất thủy ngân hữu cơ (alkyl) với giới hạn trần 0,1 mg / M3 đối với tất cả các vật liệu chứa thủy ngân khác. Giới hạn trần là giới hạn mà bạn không bao giờ được vượt quá thời gian tiếp xúc cho phép trong ngày làm việc.

Phơi nhiễm thông thường nhất và có thể xảy ra sẽ là do xử lý các chất tẩy rửa thủy ngân kim loại từ sự cố tràn hoặc thiết bị bị hỏng (nhiệt kế, công tắc, v.v.). Nếu bạn đang thực hiện nghiên cứu chuyên ngành với hợp chất thủy ngân hữu cơ, thì tất cả nhân viên phải xem xét kỹ lưỡng và hiểu rõ các bảng dữ liệu an toàn. Chúng tôi thành thật khuyên bạn nên phát triển và tuân theo các giao thức và SOP an toàn chi tiết. Thực hiện tất cả các công việc trong một tủ hút và đảm bảo nhân viên sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân phù hợp. Cuối cùng, yêu cầu một nhân viên vệ sinh công nghiệp có trình độ xem xét các SOP và tiến hành đánh giá phơi nhiễm.

Lưu ý cuối cùng về việc làm sạch tràn thủy ngân. Trước hết, hãy đảm bảo an toàn cho khu vực và cấm việc đi lại không cần thiết. Sử dụng bột lưu huỳnh liên kết thủy ngân (hoặc hỗn hợp có sẵn trên thị trường) để phủ bụi toàn bộ khu vực có thể nhìn thấy các giọt nhỏ. Cần có máy hút thủy ngân đặc biệt để hút sạch bụi và thủy ngân tự do. Nếu chất tràn ra thảm hoặc vật liệu xốp, nên loại bỏ và xử lý (như chất thải nguy hại) sau khi hút bụi. Nên phủi bụi và hút bụi ít nhất ba lần các bề mặt không thấm nước. Khi bạn chắc chắn rằng, tất cả thủy ngân đã được thu gom và loại bỏ, hãy nhờ một nhân viên vệ sinh công nghiệp có trình độ chuyên môn tiến hành đánh giá độ sạch, bao gồm việc lấy mẫu không khí để tìm hơi. Sau khi kiểm tra an toàn tuyệt đối, khu vực này mới được sử dụng bình thường trở lại.

Đỗ Quyên – dịch
Nguồn: Lab Manager – Hoa Kỳ.

0934 517 576